Từ “裼吧肚” trong tiếng Bộc Dương, bài viết đối chiếu cách nói gần gũi ở An Dương cùng Kinh Thi và Thuyết văn giải tự để tìm hiểu nghĩa để lộ thân thể của “裼” và manh mối về chữ cuối “㞘”.
Từ “kiai住” trong phương ngữ miền nam Hà Nam và những cảnh sinh hoạt nông thôn, bài viết so sánh bốn cách viết ứng viên 刻, 克, 剋, 揢 để tìm hiểu quan hệ giữa tiếng quê và chữ Hán. Kết luận vẫn là chưa xác định được chữ gốc; âm đọc, nghĩa và tư liệu địa phương cần chứng thực lẫn nhau.
Từ “rang” dùng để mắng trẻ trong phương ngữ Hà Nam rốt cuộc nên viết bằng chữ nào? Từ này chuyên chỉ việc người lớn phê bình, trách mắng trẻ nghịch ngợm. Tác giả đã cân nhắc hai chữ có thể phù hợp: Ứng viên thứ nhất: “让”. Chữ này thực sự mang nghĩa “trách cứ” trong Hán ngữ cổ. Câu “公使让之” trong 《左传》 có nghĩa là vị công sai người trách cứ người ấy. Tiếng Phổ thông đã mất nét nghĩa này, nhưng phương ngữ Hà Nam vẫn giữ lại. Ứng viên thứ hai: “嚷”. Trong các phương ngữ miền Bắc, bản thân “嚷” đã có nghĩa là quở mắng. Từ nói lớn tiếng đến lớn tiếng mắng mỏ, diễn biến ấy cũng hợp lý. Tuy nhiên, có một điểm hơi đáng ngờ: ở quê tác giả, “rang” được đọc bằng thanh một. Nhưng chữ “让” trong “谦让” (khiêm nhường) và chữ “嚷” ở địa phương đều không mang thanh một. Vì thế, rốt cuộc đó là chữ nào thì thực ra vẫn chưa có kết luận. Cũng có thể hai từ đã hòa lẫn vào nhau khi cách phát âm trở nên gần giống. Phương ngữ vẫn sống trong lời ăn tiếng nói của người dân, nhưng chữ gốc thì đã thất lạc từ lâu.